Xã Hưng Thịnh (31/05/2017 03:52 PM)

  Xã Hưng Thịnh thuộc vùng giữa của huyện Hưng Nguyên, cách thành phố Vinh khoảng 7 km về phía Tây Nam, cách trung tâm thị trấn Hưng Nguyên 5 km. Là xã thuần nông, có quỹ đất lớn, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp. Dân cư ở tập trung, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên chưa được đầu tư cơ bản đồng bộ.

  Trong những năm qua, kinh tế xã Hưng Thịnh đã có bước phát triển, nhưng chủ yếu là nông nghiệp nên bình quân thu nhập thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với các xã vùng đồng bằng trong huyện.

Có tuyến tránh Vinh chạy qua, đường tỉnh lộ 558, tạo sự liên hệ vùng thuận lợi trong huyện cũng như với thành phố Vinh và các huyện phụ cận như Nam Đàn, Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò.

Xã Hưng Thịnh nằm về phía Đông Nam huyện Hưng Nguyên trên trục đường tỉnh lộ 558 và đường tránh Vinh.

- Phía Bắc giáp thành phố Vinh;

- Phía Nam giáp xã Hưng Phúc;

- Phía Đông giáp xã Hưng Lợi;

- Phía Tây giáp xã Hưng Mỹ.

Xã Hưng Thịnh có địa hình thấp trũng, thấp dần về phía Đông. Thấp nhất là vùng đất canh tác nông nghiệp phía Đông (2,4m), cao độ bình quân khu vực 3,8m.

Địa chất công trình mang đặc điểm chung của địa chất khu vực thành phố Vinh và huyện Hưng Nguyên: Là địa chất của vùng trầm tích đồng bằng hạ lưu sông Cả. Cấu tạo địa tầng gồm nhiều lớp cát màu vàng, nâu, xám, đen, cát pha sét các dạng nhão, chặt vừa và chặt.

Hưng Thịnh có nguồn nước mặt từ sông Cầu Gãy và sông Rào Màng; đảm bảo nguồn nước sinh hoạt và sản xuất. Mực nước các sông, kênh phụ thuộc mực nước sông Lam.

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 435,7 ha. Trong đó:

            - Đất nông nghiệp :                307,29 ha ( chiếm 70,67%)

              + Đất lúa:                                      220 ha

              + Đất trồng cây hàng năm   15 ha

              + Đất nuôi trồng thuỷ sản   72,92 ha

            - Đất phi nông nghiệp:          127,5 ha ( chiếm 29,26%)

         - Đất hoang đầm, hoang nước, sông ngòi chưa khai thác sử dụng: 0,28 ha chiếm 0,07%.

Là một xã giàu truyền thống văn hoá, yêu nước. Nơi đây có di tích Đền Ông Hoàng Mười - là địa điểm tâm linh quan trọng, thu hút được sự quan tâm, chú ý của người dân. Đền ông Hoàng Mười được xây dựng năm 1634 (thời Hậu Lê). Năm 2002, đền được UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Toàn xã có 1109 hộ với 290 hộ giáo dân; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 1% năm. Dân số được phân bố trong 12 xóm dân cư tính đến năm 2010 như sau:

          * Tổng số lao động toàn xã là  2.652 người. Trong đó:

          - Lao động trong ngành nông nghiệp:  1.458 người (chiếm 55%)

         - Lao động phi nông nghiệp:  1.194 người (chiếm 45%). Nguồn lao động trong độ tuổi dồi dào, chiếm tỷ lệ 50,7% dân số là một lợi thế trong điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của xã, trình độ lao động tại địa phương còn ở mức thấp.

Văn hóa - xã hội và môi trường:

Tuy là xã thuần nông có hơn 50% đồng bào theo đạo thiên chúa nhưng phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển khá. Hàng năm có bình quân 75% số hộ đạt gia đình văn hóa.

Nhận xét chung :

Thuận lợi

Được sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng những năm trước nên điểm xuất phát cho chưng trình xây dựng NTM của xã tương đối thuận lợi tại thời điểm này đạt 9/19 tiêu chí đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế ở địa phương, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân.

Có tiềm năng tài nguyên đất đai màu mỡ, bằng phẳng, hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng cơ bản hoàn thiện đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế khá tốt trong sản xuất..

Những năm gần đây tốc độ phát triển kinh tế xã hội khá ổn định và ở mức cao, nguồn lao động dồi dào.

Hiện trạng đội ngũ cán bộ xã: công chức, cán bộ chuyên trách, cán bộ không chuyên trách đều có trình độ đạt chuẩn theo qui định. 

Xã có đủ các tổ chức hệ thống chính trị cơ sở theo qui định, nhìn chung tình hình hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở hoạt động có hiệu quả, luôn được phát huy về mọi mặt.

Hệ thống chính trị ở xã được tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy, từ năm 2004 đến nay được công nhận Đảng bộ trong sạch, vững mạnh và vững mạnh tiêu biểu nhiều năm liền.

Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội được kiện toàn đủ số lượng theo qui định, từ xã đến xóm đều có tổ chức hoạt động có hiệu quả, giữ vững mối đoàn kết giáo - lương công tác mặt trận hoạt động ngày được phong phú hơn, thực hiện tốt vai trò vận động nhân dân chấp hành và thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.

An ninh trật tự trên địa bàn huyện luôn được giữ vững và ổn định

Tuy nhiên xã vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định như: phần lớn lao động chưa qua đào tạo, tập trung chủ yếu là lực lượng lao động nông thôn làm việc thủ công nhỏ lẽ, hiệu quả lao động năng suất thấp; Việc sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản mang tính tự phát, thiếu ý thức bảo vệ môi trường, có nguy cơ hủy hoại nguồn lợi thiên nhiên, phương pháp khai thác tiềm năng lợi thế của xã chưa được quy hoạch đúng mức; Trình độ năng lực, quản lý, điều hành của cán bộ các cấp còn nhiều hạn chế, người dân có lúc còn bảo thủ, tuy nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế song một số hộ thiếu tập trung quan tâm đầu tư.

Trong thời gian qua với những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã và đang đi vào cuộc sống của nhân dân, sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, huyện, sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong xã, đã triển khai và thực hiện trong việc xây dựng NTM đạt được một số mặt như sau:

Cơ sở hạ tầng như: hệ thống điện, đường giao thông, trường, trạm, chợ, bưu điện được củng cố và tăng cường đáp ứng bước đầu cho nhu cầu phục vụ sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân trong xã. Đời sống kinh tế và tinh thần của người dân ngày càng ổn định và từng bước được nâng cao.

Hệ thống chính trị từng bước được kiện toàn đảm bảo về số lượng cũng như về trình độ nghiệp vụ chuyên môn theo chuẩn qui định nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Bênh cạnh những kết quả đạt được xã vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục như việc hoạch định, định hướng, tầm nhìn phát triển kinh tế xã hội chưa có chiều sâu, kế hoạch chuyển đổi cây trồng vật nuôi còn chậm và nhỏ lẻ chưa mang tính sản xuất hàng hoá chất lượng cao của từng vùng, nhìn chung một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao chiếm 14,7%, công tác đào tạo, dạy nghề còn hạn chế, vẫn còn tình trạng người lao động thiếu việc làm…

Với những tiềm năng sẵn có và sự đoàn kết đồng lòng của nhân dân và cán bộ trong toàn xã, hi vọng đến năm 2020 Hưng Thịnh sẽ trở thành xã NTM với nền kinh tế phát triển, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ.

Hồ Hương

 

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thống kê truy cập
Skip portletPortlet Menu
Trực tuyến:         3262
Lượt truy cập thứ:  34553686
Huyện Hưng Nguyên
Lượt truy cập thứ:   230285