Xã Hưng Xuân (31/05/2017 03:52 PM)

  Xã Hưng Xuân nằm về phía Nam của huyện Hưng Nguyên. Diện tích tự nhiên 4,3531 km2, xếp thứ 17 trong 23 xã, thị trấn trong huyện. Dân số năm 2010 là 4.103 người.

  Hưng Xuân có đường giáp ranh chung với các xã, huyện:

- Phía Bắc giáp xã Hưng Xá và Hưng Thông

- Phía Nam giáp xã Hưng Lam và Hưng Phú

- Phía Đông giáp xã Hưng Tiến

- Phía Tây giáp xã Nam Cường huyện Nam Đàn

Hưng Xuân nằm ven sông Lam, là xã đồng bằng thấp, trũng, thấp dần từ Tây sang Đông. Cao độ trung bình từ 1,5-2m, nơi cao nhất 3m, thấp nhất 0,6m. Tuy là xã đồng bằng nhưng Hưng Xuân vẫn có núi, sông. Địa hình được phân thành 2 dạng chính: Vùng trũng ven sông và vùng đồng bằng nằm về phía đông bắc.

- Dạng vùng trũng ven sông: Chủ yếu nằm dọc sông Lam ở độ cao 10-20m, chiếm khoảng 32% tổng diện tích tự nhiên, có khoảng 40% loại đất này bị ngập lụt hàng năm (bãi bồi ven sông), còn lại là ít hoặc không bị ngập lụt. Vùng này chủ yếu trồng các loại cây trồng như: lúa, ngô và các loại rau màu khác.

- Dạng vùng đồng bằng: Phần lớn ở độ cao từ 30 - 40 m, độ dốc không lớn từ 0 - 80. Đây là dạng địa hình có diện tích lớn nhất, chiếm khoảng 68% tổng diện tích tự nhiên, có ở hầu hết các vùng trong xã, nhưng tập trung nhiều ở phía bắc và đông bắc của xã. Thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, là vùng có tiềm năng lớn về phát triển các loại cây trồng như: lúa, ngô, cây công nghiệp ngắn ngày.

Khí hậu thời tiết Hưng Xuân mang đặc điểm chung của khí hậu đồng bằng Nghệ An.

- Chế độ nhiệt: Có hai mùa rõ rệt; mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Tháng 9, 10 là mùa mưa kèm theo những đợt áp thấp và bão lớn. Từ tháng 4 đến tháng 10 mùa khô hạn, độ ánh sáng lớn, gió Tây Nam  khô nóng thổi về, tháng nóng nhất là tháng7

- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm 1.500 -1.900 mm, năm cao nhất 2.500 mm., thấp nhất 1.100 mm. Trong năm lượng mưa phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào  tháng 9,10 đến trung tuần tháng 11 thường gây ngập úng.

Với những đặc điểm khí hậu thời tiết nêu trên, cần bố trí tập đoàn cây trồng, cơ cấu mùa vụ thích hợp, né tránh các yếu tố bất lợi, tăng cường bảo vệ đất kết hợp với sử dụng nhiều biện pháp tổng hợp để nâng cao độ phì nhiêu cho đất, tăng năng suất cây trồng.

Diện tích tự nhiên của xã: 435,31ha. Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 42%, đất phi nông nghiệp chiếm 51%, đất chưa sử dụng 0,7%/

Nguồn nước mặt khá phong phú biến đổi theo lượng mưa hàng năm và mực nước của sông Lam, vào mùa khô nước sông xuống thấp. Chế độ thuỷ văn của xã chịu ảnh hưởng chính của sông Lam. Đây là sông lớn nhất chảy qua trên địa bàn xã. Chiều dài của sông đoạn qua địa bàn xã khoảng 4 km, chảy theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Đây cũng là tuyến đường thuỷ quan trọng và duy nhất của xã để vận chuyển hàng hoá, vật liệu xây dựng ra bên ngoài.

Ngoài nguồn chính là sông Lam, trên địa bàn xã Hưng Xuân còn có một số bàu, đầm, sông cụt nằm rải rác trong xã khoảng 20-30 ha để cung cấp nước phục vụ sản xuất và nuôi trồng thủy sản. Đến nay xã Hưng Xuân đã chủ động tưới tiêu được 75% diện tích đất canh tác.

Xã Hưng Xuân có trên 13 ha đất đồi chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây, đây là nguồn vật liệu cho san lấp mặt bằng, vật liệu xây dựng có khả năng khai thác để cung cấp cho các ngành giao thông, thuỷ lợi, xây dựng và trồng rừng.

Dọc sông Lam có các bãi cát, đây là nguồn nguyên vật liệu xây dựng đang đưa vào khai thác.

Xã có 943 hộ với 4.103 người. Tính đến cuối năm 2010, dân số trong độ tuổi lao động của xã là 2.387 người, chiếm 58,2% dân số toàn xã. Lực lượng lao động có 1.935 người, chiếm 47,2% dân số. Số lao động được đào tạo, tập huấn 600 người chiếm 31,0% lực lượng lao động toàn xã.

Hưng Xuân là xã có dân số trẻ, có nguồn nhân lực dồi dào. Tuy nhiên trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực của xã còn nhiều hạn chế. Số lao động được đào tạo chỉ chiếm hơn 30%. Cơ cấu lao động trên cho thấy lực lượng lao động chủ yếu của xã vẫn là lao động nông nghiệp (chiếm 70%), lao động công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chỉ chiếm gần 30%.

Lao động được đào tạo nghề chủ yếu tập trung vào các ngành nghề thuộc khu vực dịch vụ, công nghiệp như sửa chữa xe có động cơ, lái xe, may mặc, mộc dân dụng, sửa chữa điện dân dụng, điện tử, gò hàn trong khi số lao động được đào tạo về các ngành nghề đang thiếu lao động có kỹ năng như chế biến nông sản, trồng trọt, chăn nuôi lại quá ít.

Hưng Xuân đã có sẵn một lực lượng lao động lớn chiếm trên 50% so với tổng dân số, tuy nhiên những năm tới, với sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới, cùng với các áp lực của cạnh tranh, của tiến bộ khoa học kỹ thuật nhu cầu lao động được đào tạo ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải có sự cố gắng lớn của xã;

Trong các năm tiếp theo, số người bước vào tuổi lao động ngày càng tăng. Đây là một lợi thế lớn cho xã, nhưng mặt khác số lượng lao động tăng thêm cộng với lực lượng lao động hiện nay chưa có việc làm là một áp lực không nhỏ đối với nền kinh tế của xã;

Tóm lại, trong giai đoạn đến 2020 so với các yêu cầu phát triển KT - XH, lực lượng lao động của xã đủ đáp ứng về số lượng. Nhưng về mặt chất lượng cần phải đào tạo để nâng cao trình độ cho lực lượng lao động phổ thông. Riêng lực lượng lao động chuyên sâu, trình độ cao trong các ngành công nghiệp trong giai đoạn trước mắt cần phải đưa từ nơi khác đến mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH của xã.

Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp, nông thôn

a. Về nông nghiệp

- Tốc độ tăng trưởng lương thực hàng năm chưa cao, chưa đều, số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn cao, từ đó gây mất cân đối trong việc phát triển kinh tế xã hội. Còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi so với yêu cầu còn chậm.

- Ý thức áp dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất của nông dân còn nhiều mặt hạn chế, chỉ đáp ứng được cơ giới hóa trong khâu làm đất và từng bước điện khí hóa trong khâu bơm tiêu chống úng, cơ giới hóa trong khâu thu hoạch và sau thu hoạch.

b. Về nông thôn:

- Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ mang tính tự phát, chưa được tiếp cận với các nguồn vốn vay tín dụng, từ đó chưa thu hút vốn đầu tư từ các nhà doanh nghiệp hay thương lái. Ngành tiểu thủ công nghiệp hiện nay chiếm tỷ trọng còn thấp trong cơ cấu kinh tế của xã.

- Các hoạt động thương mại - dịch vụ trao đổi hàng hoá tuy có bước phát triển nhưng vẫn còn chậm so với tình hình phát triển chung của đất nước, chủ yếu là hoạt động trao đổi hàng hoá nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp.

c. Về xây dựng cơ sở hạ tầng:

- Giao thông: Trong những năm qua Đảng và nhà nước đã có những bước đi đúng đắn thiết thực với việc vận động nhân dân thực hiện nhiều công trình giao thông nông thôn với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm nhiều tuyến đường liên xã, liên ấp đã được nhựa hoá hoặc bêtông hóa. Tuy nhiên cũng còn khá nhiều tuyến đường cần phải được đầu tư xây dựng và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân nhất là các tuyến ra cánh đồng và giao thông nội đồng.

- Thủy lợi: Cùng với việc phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng diện tích sản xuất và tăng số vụ từ 02 vụ/năm lên 03 vụ/năm và với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm đã thực hiện nạo vét lại nhiều tuyến kênh cấp II và III, nhưng do có khá nhiều tuyến kinh cấp III, kênh nội đồng đã bồi lắng nên chưa được nạo vét kịp thời để tưới, tiêu phục vụ sản xuất.

- Trường học: những năm qua mặc dù đã được đầu tư xây dựng liên tục nhưng do tốc độ phát triển kinh tế và giáo dục khá nhanh nên các trường học hiện nay điều không thể đáp ứng đủ phòng học, không đủ các phòng chúc năng, các trang thiết bị dạy và học; còn có những điểm trường, phòng học và các trang thiết bị xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu dạy và học.

- Môi trường: Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch còn thấp do chưa được đầu tư trạm cấp nước sạch.

- Điện: Tỷ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt đạt mức trung bình với bình quân chung của huyện.

- Đất ở, nhà ở: mặc dù xã được đầu tư xây dựng 01 cụm dân cư vượt lũ để giải quyết vấn đề đất ở, nhà ở cho hộ nghèo gặp khó khăn.

- Về đời sống vật chất và tinh thần của nông dân những năm qua đã từng bước được cải thiện đáng kể, nhà ở, các phương tiện phục vụ sản xuất và sinh hoạt được mua sắm ngày càng nhiều, tích cực tham gia đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên một bộ phận dân nghèo đời sống gặp nhiều khó khăn việc sử dụng vốn vay xóa đói giảm nghèo hiệu quả thấp, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng chưa thật sự bền vững, còn một bộ phận có khả năng tái nghèo.

- Số lao động được giải quyết việc làm hằng năm đạt chỉ tiêu đề ra, công tác đào tạo nghề được quan tâm thực hiện. Tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn cao.

Đánh giá chung.

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đến nay qua điều tra khảo sát hiện trạng và đối chiếu với các chỉ tiêu trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng Nông thôn mới xã Hưng Xuân đạt 6/19 tiêu chí.

Trên cơ sở các tiêu chí đã đạt, chưa đạt được để rút kinh nghiệm, Hưng Xuân cần từng bước đầu tự xây dựng kết cấu hạ tầng mang tính bền vững tập trung khai thác tiềm năng phát huy nội lực và tranh thủ sự giúp đỡ ngoại lực để từng bước hoàn thiện thực hiện việc xây dựng quy hoạch nông thôn mới trong những năm tiếp theo.

Để xây dựng xã Hưng Xuân đến năm 2017 cơ bản đạt chuẩn xã nông thôn mới, thể hiện các đặc trưng: có kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng nâng cao; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, có hình thức sản xuất phù hợp gắn phát triển nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; điểm dân cư nông thôn được xây dựng theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, văn minh, giàu bản sắc dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị ở xã, thôn xóm dưới sự lãnh đạo của Đảng cần có sự đồng sức đồng lòng của cả người dân và hệ thống chính quyền địa phương./.

Hồ Hương (tổng hợp)

 

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thống kê truy cập
Skip portletPortlet Menu
Trực tuyến:         397
Lượt truy cập thứ:  33901114
Huyện Hưng Nguyên
Lượt truy cập thứ:   191322