Cội nguồn Chí sỹ Phan Bội Châu
 
Cội nguồn Chí sỹ Phan Bội Châu (13/04/2019 01:59 PM)

Cụ Phan Bội Châu sinh ngày 26/12/1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 29 tháng 10 năm 1940 tại thành phố Huế.

Chúng ta đã được biết nhiều về Cụ Phan- Nhà yêu nước vĩ đại, nhân cách cao thượng, trí tuệ uyên bác, xả thân vì nghĩa. Nhưng còn ít người biết đến cội nguồn của nhân cách xuất chúng ấy. Bài viết này cung cấp thêm vài tư liệu mới, khai thác từ di sản Hán Nôm và trò chuyện với ông Phan Thiệu Cơ, cháu nội của Cụ.

I.Theo gia phả, thì Thuỷ tổ họ Phan vốn người huyện La Sơn, nổi danh khoa bảng. Trong thời loạn lạc đến ngụ cư tại xã Hương Cái, nay là xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia phả họ Phan tại nhà thờ Phan Tiến Tho (1), làng Hạ Khê, xã Hưng Tây có đoạn như sau  (dịch nghĩa)

Tiên tổ khảo: Phan Nhân Trung. Vợ là Phạm Thị Tài.                       

            Tổ đời thứ 2: Phan Nhân Chính. Triều Lê sắc phong chức Tả thị lang. Vợ người họ Lê. Ông Chính lập đồn điền ở làng Văn Quán, xã Tràng Đề, tổng Vân Trình, huyện Hưng Nguyên, khai khẩn đất đai, chiêu mộ dân cư đến ở. Có thầy địa lý chọn cho huyệt “cát địa” tại phía nam núi Thần, còn có tên là Đáp Sơn. Địa hình ở đó như phượng hoàng nhảy múa, phía trước có ngọn núi như bút vẽ lên trời. Ông đem táng mộ cha và mẹ ở đó. Về sau, con cháu học hành đậu giải cao. Họ Phan nổi tiếng cả vùng là hay chữ.

Khi triều Hậu Lê suy yếu, Họ Mạc thừa cơ phản nghịch. Con cháu họ Phan vâng mệnh triều đình chinh chiến, đánh tan quân Mạc. Sự nghiệp anh hùng được lưu sử sách. Dẫu thời thế đổi thay nhưng tấm lòng trung hiếu của hậu duệ họ Phan vẫn sáng ngời. Con cháu nối đời phát đạt.

Tổ đời thứ 3: Triều Lê , Chế khoa năm Bính Tý  (1546) đậu Đệ tam giáp Tiến sỹ, lãnh chức Thượng thư bộ Hộ, sắc phong Văn Phúc hầu, nay (triều Nguyễn- ND) sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù tôn Thần, tự Phan Nhân Thọ. Vợ người họ Nguyễn, sinh 2 nam. Trưởng nam Phan Nhân Kinh, thứ nam là Phan Nhân Tông. Cả hai người đậu Tiến sỹ cùng khoa thi.

Tổ đời thứ 4: 1)  Triều Lê, Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ, lãnh Thượng thư bộ Binh, sắc phong Lễ Xuyên hầu, tự Phan Nhân Kinh. Ông Kinh là con trưởng của  Phan Nhân Thọ. Ông Kinh lấy vợ là con gái Lê Quận công, sinh ra Phan Nhân Quản (chuyển cư đến đâu không rõ)

         Tổ đời thứ 4: 2) Triều Lê, Tiến sỹ, lãnh chức Thượng thư bộ Lại, sắc phong Diên Phúc hầu, tự Phan Nhân Tông. Vợ người họ Nguyễn, sinh ông Phan Duy Nhã .

          Tổ đời thứ 5: Triều Lê thi trúng Giải Nguyên, bổ nhiệm Tri phủ phủ Đức Quang, tự Phan Duy Nhã…”

          Gia phả họ Phan, chi Đan Nhiễm do cụ Phan Công Phổ, thân phụ cụ Phan Bội Châu tục biên, cho biết: Phan Duy Nhã sinh Phan Duy Diến. Phan Duy Diến sinh  Phan Công Tiến. Phan Công Tiến dời cư từ xã Hương Cái về làng Yên Nậu, xã Thông Lãng. Sau đó, tiếp tục dời cư lên làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, lấy vợ và sinh con ở đó. Cụ Phan Bội Châu là hậu duệ đời thứ 7 của ngài Phan Công Tiến.

          II. Ngôi mộ Thuỷ tổ Phan Nhân Trung được táng trên đỉnh ngọn đồi tên là núi Thần ở xã Tràng Đề (nay thuộc xóm 3, xã Nghi Mỹ, huyện Nghi Lộc). Năm 1939, cụ Phan Bội Châu đang bị quản thúc ở Huế vẫn gửi về 15 đồng để cùng họ Phan tôn tạo lăng mộ Thuỷ tổ. Bấy giờ đây là món tiền lớn. Cả chi họ Phan ở Đan Nhiễm cũng chỉ góp có 4 đồng (có bia ghi công đức đạt tại mộ Tổ). Năm 2010, họ Phan tiếp tục tôn tạo mộ Thuỷ tổ ở làng Tràng Đề xã Nghi Mỹ và nâng cấp nhà thờ họ ở làng Hạ Khê xã Hưng Tây.  Ông Phan Thiệu Cơ- cháu nội cụ Phan Bội Châu cùng các con cháu ở thành phố Hồ Chí Minh; vợ ông Phan Hồ- cháu dâu cụ Phan cùng các con cháu ở Hà Nội đã về dự tế Tổ. Hai đoàn cháu  chắt cụ Phan đã công đức cho họ Phan đại tôn ở làng Hạ Khê số tiền 180 triệu đồng (có bia ghi công đức đạt tại nhà thờ).

 Trên mặt tiền lăng mộ Tổ có đôi câu đối, tương truyền do Cụ Phan làm năm 1939 như sau:

    地 發 同 時 三 進 士

    家 傳 一 本 萬 而

  Địa phát đồng thời tam Tiến sỹ,

 Gia truyền nhất bản vạn nhi tôn.

 (Chữ tôn có bộ thảo trên đầu, nghĩa là cây cối um tùm rậm rạp)

Tạm dich nghĩa câu đối trên:

 Đất phát đồng thời ba Tiến sỹ,                                              

           Gia truyền một cội vạn cành tươi.

          Theo gia phả họ Phan, ông Phan Nhân Chính táng mộ cha mẹ tại “cát địa” ở xã Tràng Đề. Về sau con trai ông Chính là Phan Nhân Thọ thi đậu Tiến sỹ (Phan Nhân Thọ còn có tên là  Phan Tiến Thọ). Cả hai cháu của ông Chính  đều đậu Tiến sỹ. Cả ba cha con ông Phan Nhân Thọ đều được giữ chức Thượng thư (3 bộ khác nhau, dưới triều Lê Trung Hưng), đều được phong tước Hầu.

Ông Phan Thiệu Cơ kể rằng: để bảo vệ ngôi mộ Tổ ở làng Tràng Đề, Cụ Phan đã mai mối để người cô tên là Phan Thị Nhiều, chấp nhận làm vợ lẽ một người có thế lực trong vùng. Khi bà cô mất, họ chồng không cho đưa vào nhà thờ họ. Cụ Phan đã đứng ra lập nhà thờ riêng cho Bà Nhiều. Ngôi nhà thờ 3 gian, lợp ngói, xây gach vững chãi, trên mảnh đất 3 sào dưới chân núi Phượng Hoàng, nay thuộc xóm 5, xã Nghi Mỹ (ảnh ngôi nhà thờ 3 gian gửi kèm)

          III. Nhà thờ họ Phan- Hạ Khê đã được công nhận là Di tích Lịch sử cấp tỉnh (2). Nơi đây còn lưu giữ nhiều di sản Nán Nôm. Trong đó, ngoài gia phả còn có hai tư liệu quý sau:

1.     Sắc Phong thần (phiên âm) (3)

           Sắc Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên phủ, Hoàng Cái xã, Hạ Khê thôn, phụng sự Lê triều Tiến sĩ Khai quốc Công thần Văn Phúc hầu Phan Tiến Thọ linh ứng chi Thần, nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, phong vi Dực bảo Trung hưng Linh phù chi Thần. Chuẩn kỳ phụng sự, thứ ky thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân.        Khâm tai!  Bảo Đại thập ngũ  niên, cửu nguyệt, nhị thập cửu nhật.

Dịch nghĩa:                            

       Sắc ban cho làng Hạ Khê, xã Hoàng Cái (4), phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đang thờ phụng Lê triều Tiến sĩ Khai quốc Công thần Văn Phúc hầu Phan Tiến Thọ Linh ứng chi Thần, rất linh thiêng. Nay Trẫm thừa mệnh trời trị nước, ghi nhớ công lao của Thần, phong là Dực bảo Trung hưng Linh phù chi Thần, cho phép dân làng  được thờ phụng  như cũ, ngõ hầu Thần phù hộ dân ta lâu dài. Kính vậy ! 

                                                Ngày 29 tháng 9 năm Bảo Đại thứ 15 (1940)

          2. Câu đối chữ Hán (Tạc ở hai cột quyết, mặt tiền nhà thờ)

Phiên âm:  Tổ nghiệp phù Lê hưng quốc thể

                   Trung thần thắng Mạc tặng phong Hầu

Dịch nghĩa: Tiên  tổ  phò Vua Lê, thồng nhất đất nước

                     Trung thần thắng họ Mạc, được phong tước Hầu.

 

          Theo những bậc cao tuổi, sinh thời Cụ Phan đã nhiều lần đến nhà thờ họ Phan dự lễ tế Tổ, có lần tặng đôi câu đối nhận mình là hậu duệ đời thứ 7 của họ Phan.       Có thể nói Cụ Phan là tấm gương mẫu mực cho hậu thế về đạo lý: Yêu nước, thương dân gắn liền với yêu cha mẹ, tổ tiên của mình./.   

                                                          Thái Huy Bích                            

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thống kê truy cập
Skip portletPortlet Menu
This portlet is unavailable.