Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kinh tế vùng đất màu bãi ven sông Lam?
 
Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kinh tế vùng đất màu bãi ven sông Lam? (13/06/2013 04:28 PM)

Vùng đất bãi màu ven sông Lam thuộc địa bàn huyện Hưng Nguyên là đất thủy thành chủ yếu gồm các loại: Phù sa cổ và phù sa được bồi hàng năm. Trước thập niên 90 có gần 1000 ha, thổ nhưỡng ở đây rất thích hợp với các loại cây trồng hàng năm như: Ngô, Lạc, Đậu đỗ, Kê, Vừng, các loại rau màu… năng suất thực thu các loại cây trồng ở đây đạt rất cao, xấp xỉ với tiềm năng suất lý thuyết, nhờ độ phì màu mỡ, phù sa được bồi đắp hàng năm.

Theo người dân địa phương, trước đây quy luật con nước của dòng sông lên xuống thường trùng với chu kỳ hàng năm. Mưa lũ chủ yếu tập trung vào hạ tuần tháng 9 và đầu tuần tháng 10, mùa hè hạn hán ít xảy ra, dựa vào quy luật thời tiết khá ổn định người dân có thể chủ động canh tác 2 đến 3 vụ trên năm. Tuy nhiên những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và tác động của nạn khai thác cát trái phép, đã làm thay đổi dòng chảy, nhiều diện tích bị sạt lở, một số diện tích bị cát hóa không còn khả năng canh tác. Mưa lũ không theo quy luật trung bình hàng năm, gây khó khăn cho sản xuất, đặc biệt là vụ hè thu. Bên cạnh đó hệ thống thủy lợi chưa được đầu tư xây dựng, nguồn nước cung cấp cho cây trồng chủ yếu phụ thuộc vào lượng mưa. Một số diện tích có tỷ lệ cát pha lớn, vụ hè thu mực nước ngầm thấp, nắng nóng gây hạn nghiêm trọng ở giai đoạn đầu của cây con, cuối vụ thường gặp mưa lũ đến sớm, gây thiệt hại về năng suất, sản lượng cây trồng.

Theo báo cáo của các xã, diện tích đất bãi màu ven sông Lam hiện nay chỉ còn khoảng hơn 700 ha, thuộc 9 xã dọc sông Lam gồm: Hưng Lĩnh khoảng 87 ha, Hưng Long 54 ha, Hưng Xá 52 ha, Hưng Xuân 48 ha, Hưng Lam 120 ha, Hưng Khánh 143 ha, Hưng Châu 41 ha, Hưng Lợi 35 ha, Hưng Nhân 120 ha. Trong đó vụ đông xuân có hơn 500 ha được sản xuất, chủ yếu cơ cấu các loại cây trồng như ngô, lạc, rau các loại; còn khoảng 200 ha có tỷ lệ cát cao, hoặc nằm trong vùng tranh chấp, ranh giới không rõ ràng với Hà Tĩnh (thuộc khu vực liên quan 3 xã Hưng Khánh, Hưng Nhân, Hưng Lam) nông dân rất ít canh tác.

Năng suất Ngô vụ xuân vùng đất bãi bình quân 3 năm gần đây giao động từ 45 – 55 tạ/ha; Năng suất lạc giao động từ 22 – 23 tạ/ha. Vụ hè thu phần lớn diện tích đất bãi bỏ hoang, dùng làm bãi chăn thả. Số diện tích đất màu bãi được gieo trồng chỉ đạt khoảng 180 – 200 ha, tập trung chủ yếu ở Hưng Nhân, Hưng Lam, Hưng Khánh, Hưng Châu… Cơ cấu cây trồng chủ yếu là Đậu đỗ, năng suất đạt 6 – 8 tạ/ha; Vừng 5 – 6 tạ/ha; Cây Kê 10 – 12 tạ/ha. Qua kết quả khảo sát cho thấy một số công thức luân canh cây trồng chính:

Ngô đông xuân – đậu xanh hè, doanh thu ước đạt 43 – 45 triệu đồng/ha;

Ngô đông xuân – vừng hè thu, doanh thu ước đạt 48 – 50 triệu đồng/ha;

Lạc xuân – Đậu xanh hè, doanh thu ước đạt 47 – 49 triệu đồng/ha;

Lạc xuân – Kê hè thu, doanh thu ước đạt 75 – 78 triệu đồng ha.

Như vậy, việc canh tác 2 vụ/năm ở vùng đất màu bãi ven sông Lam doanh thu bình quân đạt 45 – 50 triệu đồng/ha. Trong đó công thức Lạc xuân – Kê hè thu đạt cao nhất, trên 70 triệu đồng/ ha/năm.

Mô hình dân vận khéo, cánh đồng thu nhập cao tại xã Hưng Nhân

Vấn đề đặt ra là canh tác 2 vụ/năm doanh thu đạt khá cao, tại sao diện tích sản xuất hè thu trên đất bãi ngày càng thu hẹp? Một số công thức luân canh doanh thu đạt rất cao, tại sao không mở rộng được?

Diện tích sản xuất trên đất bãi ven sông Lam ngày càng thu hẹp

Để giải quyết tốt các vấn đề trên cần có sự vào cuộc của các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ tổng thể hoàn thiện hệ thống nông nghiệp trên vùng đất bãi:

Trước hết, dựa vào lợi thế nguồn nước có sẵn của Sông lam, ưu tiên lập dự án đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi tưới cho vùng bãi. Sử dụng công nghệ cấp nước bằng đường ống nhựa, để tránh hệ quả bị cát bồi lấp kênh mương hàng năm. Giải quyết được vấn đề này, sẽ chủ động bố trí thời vụ, đảm bảo sản xuất hiệu quả, an toàn và ăn chắc. Kết hợp đầu tư đường giao thông, hệ thống điện, ban hành chính sách hỗ trợ cho nông dân tự khoan giếng, bơm nước phục vụ sản xuất.

Hai là, rà soát, thống kê hiện trạng, một số vùng tiến hành dồn điền đổi thửa, khắc phục tình trạng thửa nhỏ lẻ, manh mún, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa; khuyến khích các hộ có đủ năng lực đầu tư xây dựng trang trại sản xuất trồng trọt kết hợp chăn nuôi gia súc, tận dụng mặt nước sông, lạch nuôi cá bè.

Ba là, tăng hệ số sử dụng đất, mở rộng diện tích canh tác 2 – 3 vụ/năm. Bằng cách bố trí lại thời vụ. Tập trung chỉ đạo gieo trỉa sớm một số cây trồng vụ đông xuân như: Ngô, Lạc, Khoai tây, Cỏ Ngọt …để thu hoạch cuối tháng 2, đầu tháng 3 dương lịch, có thời gian chủ động làm vụ xuân hè, chứ không sản xuất vụ hè thu. Tùy vào tập quán canh tác, lợi thế của từng vùng vụ xuân hè cơ cấu: Đậu xanh; Đậu tương; Vừng; Ớt cay cao sản, Kê, …Đặc biệt một số vùng bãi cao thuộc các xã: Hưng Nhân, Hưng Khánh, Hưng Lam, Hưng Lĩnh, Hưng Long …điều chỉnh lịch thời vụ, để bố trí sản xuất thêm vụ đông nhằm đạt 3 vụ/năm. Đối với vụ đông chủ yếu trồng ngô, rau các loại (Bí xanh, mướp đắng, cải các loại…); Một số chân đất bãi thấp như vùng bãi Hưng Xá, Hưng Xuân...chỉ nên canh tác 2 vụ: Ngô chính đông và ngô vụ xuân hoặc lạc vụ xuân.

Thứ tư, tập trung chỉ đạo sản xuất đồng bộ về thời vụ, đặc biệt là vùng đất bãi giáp ranh giữa các xã, nhằm tổ chức quản lý, bảo vệ tốt hoa màu, tránh tình trạng một số xã không chỉ đạo nông dân sản xuất, để chăn nuôi gia súc thả rông, gây thiệt hại về hoa màu.

Năm là, cần có sự hỗ trợ của nhà nước, đầu tư kinh phí triển khai một số thí nghiệm về chuyển dịch thời vụ; Nghiên cứu quy luật thủy văn của sông Lam; thí nghiệm một số giống cây trồng mới để tổ chức hội thảo, đánh giá, làm cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm bố trí lại thời vụ và cơ cấu cây trồng hợp lý trên đất bãi.

Sáu là, xác định rõ ranh giới vùng tranh chấp, tiến hành giao đất cho nông dân chủ động tổ chức sản xuất. Những diện tích có tỷ lệ cát hóa lớn, ưu tiên trồng cây họ đậu để cải tạo đất. Quy hoạch cụ thể một số vùng dành riêng cho chăn nuôi đại gia súc.

Bảy là, có kế hoạch lập dự án trình UBND Tỉnh, Bộ Nông nghiệp & PTNT, các ngành liên quan hỗ trợ đầu tư xây dựng kè chống sạt lở cho một số khu vực trọng yếu ở vùng bãi sát sông lam thuộc các xã: Hưng Lĩnh, Hưng Long, Hưng Khánh, Hưng Nhân…đồng thời tổ chức phát động nhân dân trồng tre chắn sóng, hạn chế sạt lở đất.

Tóm lại, để đẩy mạnh phát triển kinh tế vùng bãi, cần có sự hỗ trợ ban đầu của nhà nước về đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, điện, thủy lợi, thực hiện một số nghiên cứu cơ bản về thủy văn, thời vụ…, tổ chức điều tra thu thập số liệu cơ bản, tranh thủ ý kiến góp ý của các nhà khoa học, các nhà quản lý…bên cạnh đó các địa phương phải lập quy hoạch, kế hoạch cụ thể, lộ trình phát triển kinh tế vùng bãi, xác định rõ các loại cây trồng cạn có giá trị cao trên đất bãi màu để tổ chức chỉ đạo sản xuất, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng một số trang trại trồng trọt, chăn nuôi, tận dụng mặt nước có sẵn để nuôi cá bè, phát triển nguồn lợi thủy sản. Tổ chức tốt hệ thống canh tác nông nghiệp bền vững trên vùng đất bãi, sẽ đánh thức, khai thác tối đa lợi thế, tiềm năng về một vùng đất phù sa màu mỡ, góp phần nâng cao đời sống cho người dân ven Sông Lam.

Hoàng Ân

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thống kê truy cập
Skip portletPortlet Menu
This portlet is unavailable.